MXAT - Nắng chiều chói chang và mưa nguồn nước lũ lúc nào cũng muốn trút thẳng vào cuộc đời của thằng Vồ ngơ ngác sau lán chiều nơi vùng núi Cấm, khe Hao. Cuộc đời và việc học hành của nó phiêu lưu giữa rừng già khuya khoắt với đầy những vất vả lo toan để vươn lên chống đói nghèo trên mảnh đất vùng cao sơn cước.
Màn đêm buông xuống núi rừng rải đều từ vách rừng hưu quạnh xuống thung lũng. Tiếng gầm rú của bầy Chó sói, Lợn rừng càng về khuya lại thêm da diết. Trơ trọi giữa cánh rừng già bạt ngàn là ba túp lều của người dân khai hoang trồng khoai, sắn. Nửa đêm người đi rừng qua lại có nghe tiếng trẻ nhỏ khóc lóc và người ta nói là bố thằng cu đi săn bắn chắc chưa về. Thì ra bố nó đi săn thú với ông Hiền Tun đến giờ vẫn chưa về lán. Bố nó vốn là bộ đội đi đánh giặc tại mảnh đất Vĩnh Linh - Quảng Trị về và kiếm đâu được khẩu súng AK về kết hợp đi săn với ông Hiền Tun. Những ngày tháng săn bắn thật là đầy cảm xúc nơi núi rừng hoang sơ. Ông Hiền Tun cũng là một tay thợ săn khét tiếng của núi rừng, trong tay ông ấy luôn có cả tiểu đội chó săn sát máu. Giữa cánh rừng già hoang vu, thằng Vồ cảm thấy con người cũng chẳng khác xa thú vật lắm. Đêm đó bố nó và ông Hiền Tun vác hoãng, lợn rừng về vứt hai con vật xuống góc lán, thằng Vồ vội đốt đống củi lên và vịn tay xé ít nứa trên bờ vách làm đóm cho hai ông thợ săn hút thuốc lào, khói thuốc lan tỏa khắp túp lều nhỏ khiến thằng vồ cũng cảm thấy ấm lòng.
Buổi sáng nào cũng vậy, nó và thằng Hiếu con nhà ông Hiền Tun cũng đeo cái bao đạn bằng vải dù chạy một mạch qua con dốc lớn để kịp đến trường cấp 1 Ao Kè để học. Cái bao đạn là kỷ vật không bao giờ quên đối với những năm tháng học hành của thằng Vồ dưới mái trường Ao Kè, bởi vì đây là cái bao đựng đạn của đơn vị mà chú Ổn là người cho nó. Chú Ổn vốn là bộ đội của một đơn vị tăng - thiết giáp đóng ở thung lũng núi Cấm gần với khe Hao, nước xanh lèo và sâu hoắt. Trời đất u tối, đường sá gập ghềnh, hiểm trở nhưng hầu như đêm nào chú Ổn cũng xuống làng Rừng chơi, hết qua nhà thằng Vồ bắn thuốc lào rồi lại qua nhà ông Hiền Tun tán phét. Nhà ông Hiền Tun có con gái đầu xinh đẹp thấy chú Ổn là bộ đội khỏe mạnh và thường giúp dân làng nên đã phải lòng chú Ổn, thế rồi từ đó chú Ổn chẳng khác nào con em của làng rừng, đêm nào chó làng rừng cũng sủa ăng ẳng báo hiệu bộ đội xuống dân. Trời đất tối mịt như gần nhau, ngoài kia ếch nhái vẫn kêu, trong một góc nhỏ với một bảng đen, chú Ổn dạy học cho thằng Vồ và thằng Hiếu, góc học tập xơ xác nhưng ấm áp nghĩa tình quân dân, cá nước.
Mấy năm đói ăn, thằng Vồ chẳng biết sách, vở, trường lớp là gì, suốt ngày là chăm lán trên nương rẫy. Hôm ấy hai ông thợ săn ngồi bần thần uống nước chè nơi sân nhà thằng Vồ bàn tán về chuyện học hành của hai thằng nhóc. Nhìn vẻ mặt hai ông thợ săn quả là tội nghiệp, bởi vì nếu cho chúng nó đến trường thì gia đình lại thiếu người lao động, khi đó bố mẹ lại phải làm việc bằng hai, nhưng không cho chúng nó đến trường thì cũng khổ chúng nó. Bố thằng Vồ nói:
- Ta phải xin cho chúng nó đi học thôi, cứ cảnh đốt nương làm rẫy thế này có lẽ chẳng tồn tại được bao lâu đâu, muốn thoát khỏi đói nghèo chỉ có học hành mới được. Ông còn nhớ hồi chiến tranh, đơn vị cho ở lại học sỹ quan đối với những người có trình độ, còn người không học hành gì như anh em mình buộc phải trở về với núi rừng.
Nhìn nét mặt nhăn nhó bởi những vết gai rừng cào xé trên khuôn mặt ông Hiền Tun mới thấy hết được sự ngao ngán, nỗi vất vả nuôi con ăn học. Sáng hôm sau hai ông thợ săn leo lên con xe đạp Thống Nhất quyết định xuống núi để tìm nơi gửi gắm cho con ăn học, hai ông đã tìm đến một làng khá xa so với làng Rừng, đó là một ngôi nhà bằng đá núi của đơn vị tăng - thiết giáp xây để dùng cho việc tu sửa xe tăng mỗi khi hư hỏng. Hôm nào hai thằng cũng đeo bao đạn đi học nhưng không vào lớp, tại đó lớp học vỡ lòng chỉ chừng hơn mười học sinh và một cô giáo chủ nhiệm vẫn diễn ra vui vẻ với những bài hát về Bác Hồ. Suốt cả một thời gian dài, hai thằng nhóc thẹn không dám xin vào lớp mà ngồi ngoài buồn tay trèo lên xe tăng tháo lấy các con ốc về làm đồ chơi, thế mà mỗi khi học về bố mẹ nó cứ tưởng con cái mình đi học tốt cả, dẫu sao thời điểm bấy giờ do bận bịu việc rừng núi nên cha mẹ nó cũng chẳng còn thời giờ nào chú ý đến bọn chúng. Một hôm ông Hiền Tun thấy hai thằng đi học về, mặt mũi, chân tay toàn là dầu mỡ xe cơ khí, ông Hiền Tun liền hỏi:
- Hai đứa đi học về sao mà bẩn vậy?
- Thằng Hiếu: con đi học về và trèo lên xe tăng tháo mấy con ốc về chơi.
Ông Hiền Tun dựng điếu thuốc lào đang hút giở xuống sân và lộc bao đạn của hai thằng thì thấy toàn là ốc ác và quyển vở không một chữ nào ngoài mấy chữ ngoài bìa nhãn vở, ông sang nhà thằng Vồ sau đó để thưa chuyện hai thằng không đến lớp buổi nào. Sau vài lời bàn tán, hai ông thợ săn dặn dò hai thằng cần mạnh dạn gặp cô giáo để xin vào lớp, sáng hôm sau hai thằng đến lớp gặp cô giáo và nói:
- Thưa cô cho em vào học với
- Cô giáo: Các em ở đâu sao gần hết năm học rồi mới đến lớp?
- Thằng vồ: Dạ! tụi em ở làng Rừng, cô cho tụi em học với.
Nhìn cô giáo do dự, suy nghĩ bần thần vì cô chưa bao giờ gặp cảnh này, cuối cùng cô nói: Thôi các em về nói với bố mẹ là để đến đầu năm học mới gặp cô rồi cô xin cho học lớp một tại trường cấp một Ao Kè.
Thấu hiểu hoàn cảnh gia đình, biết ơn cô giáo nhiều, thằng Vồ quyết tâm học tốt dưới mái trường Ao Kè. Mấy năm học cấp một, thằng Vồ luôn đạt học sinh tiên tiến, đặc biệt đã một lần có mặt trong đội tuyển thi học sinh giỏi Toán tại trường Hải Nhân A - một ngôi trường từng đạt danh hiệu lá cờ đầu toàn quốc những năm 1983-1984.
Một ngày mới lại về nơi vùng thung lũng núi Cấm, khe Hao. Nhìn xa xa đồi núi nhấp nhô với bạt ngàn là sim, mua rực nở. Ba cái lán lại tiếp tục vào ngày mới trên vùng cao sơn cước. Cứ mỗi buổi sáng người ta phải gánh sắn, khoai đã xắt trong đêm lên các tảng đá to để phơi, thằng Vồ sáng nào cũng gánh khoai, sắn lên hòn đá Nhà Lồng Thép Gai để phơi, hòn đá này to bằng cả năm cái xe tăng bọc thép, nó nhô cao hơn cả và bằng phẳng, là nơi trú mưa chứa được cả vài tiểu đội lính nằm ở phía tây lán nhà nó. Tuổi thơ thằng Vồ nơi đây lúc ẩn, lúc hiện chẳng khác nào trò chơi ú tim giữa rừng già heo hắt.
Mấy hôm không bận công việc ở đơn vị, chú Ổn xuống lán thằng Vồ chơi và nói chuyện:
- Cháu có thích bắn nỏ không? để chú làm cho?
- Thằng Vồ thích chí: cháu thích lắm, chú làm cho cháu đi.
- Ừ! Chiều nay xuống làng rừng chú xin chặt cây tre về rồi chú làm cho.
Chiều hôm đó, chú ổn xuống làng Rừng chặt cây tre mang về lán thằng vồ và làm ngay buổi tối hôm đó. Một buổi tối thật là vui vẻ tại lán thằng Vồ, không khí núi rừng tĩnh mịch nhuốm màu đen đặc quện như hắc ín. Tiếng cọc cạch xắt khoai, sắn bên lán ông Hiền Tun và ông Đảm vẫn hì hục, còn bên lán thằng Vồ diễn ra cuộc chế tạo nỏ của chú Ổn. Thời gian càng ngày càng về khuya nơi khu rừng hoang sơ, cuối cùng chiếc nỏ khá to cũng được làm xong.
Sáng hôm sau, khi mà ánh sáng mặt trời non nớt chưa thể làm tan các bạng nhện phủ màn trên mặt đất thì thằng vồ mặc cái quần xà lỏn, vai vác khẩu nỏ chạy một mạch như con hoãng thoát bẫy về phía đơn vị quân đội để tìm chú Ổn. Cánh cửa bộ đội vẫn đứng im, một chú bộ đội đứng chỉnh tề với khẩu AK trên vai hỏi:
- Cu cháu đi đâu ?
- Thằng Vồ nói: Cháu đi gặp chú Ổn.
Nghe tiếng động ngoài cửa, chó béc dê hung dữ phát ra từ cổ họng với những tiếng kinh hoàng khiến thằng Vồ tái hết mặt mũi. Một lúc sau chú Ổn cũng ra và nói:
- Lại đến gặp chú để chú dạy bắn nỏ cho chứ gì?
- Vâng a! Cháu mới luộc xong nồi sắn nên gọi chú xuống ăn và dạy bắn nỏ cho cháu luôn.
Sương buổi sáng đang tan, trên vách núi lộ dần các tảng đá, ánh nắng xuyên như mũi lê xuống từng kẽ đá vách rừng. Trên mặt đất - đoạn đường từ đơn vị tăng - thiết giáp xuống thung lũng, một bóng dài như cây sào và một bóng tròn như chiếc cù cứ lừ lừ dịch chuyển dần về phía vách rừng hiu quạnh. Nhìn lên rừng già với đầy dẫy lim, sến,… thấy khá nhiều Cò, Vạc về đây quây quần, trú ẩn. Chú ổn chỉ tay về phía tây khu rừng và nói:
- Cò, Vạc rất nhiều, quả này chú cháu ta vót nhiều tên để giết thịt chúng.
Thằng Vồ vừa đi, vừa vui sướng và suy nghĩ về hình ảnh anh bộ đội cụ Hồ thật là cao thượng. Về đến lán, chú Ổn đưa ra các lệnh quân sự để tập luyện. Một thằng người làm bằng cây chuối cũng được dựng lên cách U Mối khoảng năm chục mét, các mũi tên liên tục được xâu xé khiến nhựa chuối ứa ra tím bầm tại các vết mũi tên.
Mãi rong chơi với thú vui săn bắn, một hôm bầy Chó Sói chừng mười lăm con kéo xuống ăn thịt bò của nhà nó. Chó Sói thật là lì lợm, hung dữ và đoàn kết đã tấn công bầy bò chỉ trong vài chục phút đã rút ruột sáu con bò, khi nghe tiếng động của thằng Vồ từ rừng sâu ra thì chúng nó tháo chạy nhanh như cắt vào rừng để lại trên khuôn mặt thằng Vồ một sự hãi hùng và nỗi lo lắng về gia đình nó. Vào một buổi chiều trên mảnh đất lửa nung, tiếng la hét của thằng Vồ lại vang vọng núi rừng khi bố nó phang nó bằng một loại đòn xóc Bạch Đàn rất đau đớn, có lẽ những đòn roi quá nhiều nên nó thêm chai lì và đứng vững hơn trong cuộc sống.
Thời gian cứ thế trôi đi, lán chiều năm nào cũng trồng khoai, sắn, nuôi dê, bò nhưng cuộc sống gia đình thằng Vồ cũng chẳng khấm khá lên được chút nào. Việc đèn sách của nó với chiếc đèn dầu lập lòe trong lán chiều xơ xác không gì khác ngoài mấy cuốn vở i tờ. Bố nó sau chiến trường Vĩnh Linh về thường bệnh tật liên miên khiến gia đình nó không bữa nào vắng khoai, sắn trên mâm cơm chiều.
Vào năm 1986, làng Rừng không hiểu vì sao người qua lại nhiều hơn, trên đơn vị tăng - thiết giáp cũng có một điều gì đó khác thường so với mọi ngày, thằng Vồ còn ít tuổi nên nó cũng chẳng hình dung ra được gì cả. Một chiếc xe Uwat nổ máy khói om mãi mới bò lên con dốc đá gập ghềnh, thằng Vồ vác nỏ chạy theo lên đến đỉnh dốc thì đuổi kịp xe. Con Uwat dừng lại đỉnh dốc, một người đàn ông hơi gầy và nhỏ bước xuống xe chống nạnh hỏi:
- Cu Cháu có biết trong này có đơn vị bộ đội gần đây không?
- Thằng Vồ: Ở bên tê đấy chú!
Thế rồi nó nhìn lên xe thấy mấy ông toàn là tai to, mặt lớn trông rất dữ dội. Trước khi nổ máy đi tiếp sang đơn vị, có một ông to đùng ngồi trên xe đưa cho nó một tờ họa báo Liên Xô rồi kèm theo mấy lời xi lô, xì lồ khiến nó chẳng hiểu gì cả. Thì ra, khi về hỏi chú Ổn nó mới biết cái xe Uwat đó chở đoàn cán bộ quân đội và nhà báo của Liên Xô sang làm nhiệm vụ quân sự tại đơn vị tăng - thiết giáp.
Một buổi chiều hiền hậu êm như nhung lụa trải xuống làng Rừng, không ai lại nghĩ đến bữa cơm chiều buồn bã nơi đây đến vậy, khi mà chiếc đài Nailtional lắp pin con thỏ phát lên: “Nhân dân Việt Nam phản đối cái tội độc ác của nhà cầm quyền Trung Quốc xâm lược vào Quần Đảo Trường Sa của Việt Nam”, cả làng ai cũng căm thù giặc. Thằng Vồ lắp tên vào nỏ bắn mấy phát lên trời, mặt nó hung bạo như muốn nói một điều gì đó trong lòng mà không thể toát lên bằng lời. Bố nó đã từng đi chiến đấu nên cũng nói giọng nghẹn bực: “lại chiến tranh à???”.
Thế rồi cả tuần lễ kéo dài, cuộc diễn tập quân sự bên thung lũng núi Cấm diễn ra rầm rộ, những chiếc xe bọc thép càn quét bắn phá núi rừng ầm ĩ. Cả đoàn xe nối đuôi nhau nhào xuống Ao Quan rộng lớn, sải chân vịt bơi nhào rẽ sóng mặt nước. Tin từ Trường Sa liên tục gửi về qua làn sóng với các chiến sỹ Việt Nam càng ngày thêm con số hy sinh khi lên cắm cờ giữ đảo khiến bà con làng Rừng thêm đau xót. Chú Ổn ngồi trên xe tăng tập luyện nhìn thằng Vồ và người dân làng rừng đứng xem mà trong ánh mắt của chú có điều gì đó buồn rượi, không cười vui như mọi ngày. Sau buổi tập, chú Ổn dừng xe bên đường và nhảy xuống bẻ một nắm lá Bạch Đàn để xuống đất làm bệ ngồi và nói với vẻ mặt buồn rầu với thằng Vồ:
-Chú sắp phải xa cháu và dân làng nơi đây rồi, chú phải ra biển đảo rồi, cháu ở lại gắng học đến ngày chú về dạy tiếp cho cháu nữa.
-Thằng Vồ: Chú ra biển đảo có việc chi? Khi nào chú về
-Chú cũng không biết nữa, sau này lớn lên rồi cháu sẽ hiểu.
Thằng Vồ buồn rười rượi cầm cái nỏ do chú Ổn làm cho chạy về nhà nó và nhà ông Hiền Tun thưa chuyện đó. Mấy gia đình làm nương rẫy mà chú Ổn thường đến chơi ai ai cũng cảm thấy trống vắng tình cảm nơi một góc làng nghèo khổ khi phải chia tay với một người con yêu dấu. Tối hôm đó chú Ổn xuống các gia đình làng Rừng chia tay để lên đường vào Trường Sa. Năm ấy là 1986, một đêm buồn của mấy gia đình như một màn đêm che lấp hết những buổi chiều ấm áp, quây quần thường ngày. Bố thằng Vồ nói:
- Cháu phải vào Trường Sa à?
- Vâng! Cháu phải vào Trường Sa để làm nhiệm vụ. Cháu rất buồn khi phải chia tay với các bác ở nơi đây, trong những tháng ngày qua lại với làng Rừng có điều gì không phải mong các bác thông cảm cho cháu
-Bố thằng Vồ: không có gì đâu cháu, dân làng luôn coi cháu như người con yêu quý vì cháu giúp dân làng nhiều mà.
Một sự chia tay không mong muốn của người dân làng Rừng với chiến sỹ đơn vị tăng - thiết giáp cũng đã diễn ra. Sáng hôm sau, từng đoàn xe bọc thép cắm cờ quyết thắng nối đuôi nhau băng qua đường 15, tiến dọc theo sườn núi phía tây – nam Thanh Hoá hướng vào nam. Đoàn xe tăng bọc thép nối đuôi nhau gầm rú không ngớt, để lại đằng sau là khói xe lẫn đất rừng mù mịt. Thằng Vồ đứng bên vệ đường nhìn chú Ổn vẫy tay không ngớt, tiếng gầm rú của đoàn xe bọc thép lặng dần khiến thằng Vồ không thể hình dung ra việc gì đang giễn ra cả, nó chỉ còn cảm giác về chú Ổn, về đơn vị bộ đội qua mùi khét của khói xe tăng còn thoang thoảng đọng lại. Một ngày buồn thiu trở về nhà, nó lưu giữ chiếc nỏ làm kỷ niệm để luôn nhớ về chú Ổn - một anh bộ đội Cụ Hồ cao cả khắc sâu trong lòng nó nơi lán chiều.
Đoàn xe tăng - thiết giáp mỗi lúc rời xa, rời xa. Chú bộ đội thân yêu của thằng Vồ và lán chiều xơ xác mãi mãi ra đi không còn một tin tức gì, cuộc sống của nó sau này có đổi khác nhưng kỷ niệm tuổi thơ sau lán chiều không bao giờ phai mờ trong nó.
Đà Lạt, ngày 14 tháng 11 năm 2007.
Nguyễn Văn Thanh
|