Truyện cổ tích

(19/10/2008)
Thời vua An Dương Vương, dân chúng xây thành Cổ Loa ngăn chặn giặc phương Bắc. Xây mãi không xong, nhà vua bèn lập đàn cầu tế. Trong lúc đó, một vị thần hiện ra dưới bóng con rùa vàng - tục ngữ gọi là thần Kim Quy - và dạy nhà vua cách xây thành.
(10/10/2008)
Ngày xưa, có một ông phú hộ sinh được 4 người con trai khi biết mình sắp chết, ông gọi 4 người con đến, dặn dò các con phải chia gia tài của cha làm 4 phần đều nhau.
(04/06/2008)
Thời xưa, ở làng Chử Xá, có hai cha con Chử Cù Vân và Chử Ðồng Tử, nhà nghèo đến nỗi phải chung nhau một cái khố, hễ ai đi đâu thì đóng. Cù Vân bị ốm nặng, khi sắp chết, dặn lại con rằng:
(13/02/2008)
MXAT - “Ngày xưa, có một chú chim én vì ham chơi nên trốn bố mẹ thử vượt biển cùng các bạn chim hải âu. Đang bay giữa biển, đùa vui cùng nắng, gió và sóng thì chim én và các bạn hải âu gặp phải một cơn cuồng phong dữ dội. Chim én chao đảo rồi bị thổi đi …

ĐƯỜNG VỀ QUÊ NGOẠI

MXAT - Một hôm, vừa mở mắt, mẹ đã kéo tôi ra khỏi giường, rối rít giục tôi vệ sinh, ăn sáng, mặc quần áo tươm tất. Mẹ nói, chúng ta về quê. Về quê, một việc hệ trọng thế lẽ ra mẹ phải cho tôi biết trước chứ. Đằng này, khi tôi ngủ mẹ đã chuẩn bị tất cả. Một chiếc vali và một ba lô kềnh càng. Hình như mẹ mang cả căn phòng này đi cùng. Khi tôi nhắm mắt nhắm mũi ăn thật nhanh bát mì thì mẹ đi ra đi vào. Mẹ không cần biết đến vẻ mặt ngơ ngác của tôi.

Trên xe đã ních chật cứng người thế mà mẹ vẫn ẩy tôi lên bằng được. Một chú gì đưa cho mẹ cái ghế nhựa, bảo một lúc nữa tìm được chỗ thì hai mẹ con thay nhau ngồi. Mùi mồ hôi, mùi xăng, mùi thuốc lá. Tôi cảm thấy như mình đang bị đè bẹp trong không gian ngột ngạt này. Xe chạy. Tiếng ồn ĩ ngơi ngơi, làn gió từ cánh đồng ùa vào khiến ai nấy dễ thở hơn. Mẹ vẫn một vẻ mặt căng thẳng, không nói không rằng suốt chặng đường. Tìm được chỗ đặt chiếc ghế, tội tựa vào chân mẹ thiu thiu ngủ.

Mẹ lay tôi dậy, đến quê ngoại rồi.

Vi vút hai bên cửa là đồi xanh nối tiếp đồi xanh. Xe lên dốc rồi xe xuống dốc.Tôi thấy mình như lơ lửng trên không. Vừa bị đẩy về bên này đã đổ nhào sang kia. Chiếc xe chưa kịp trườn lên đã lao xuống. Chỉ âm âm tiếng gió. Ruột gan nhộn nhạo. Tôi muốn nôn.

Rồi xe đột ngột dừng lại ở một ngã ba khi trời đã nhá nhem. Mẹ nhảy xuống làm chỗ vịn cho tôi. Khuân hết đồ đạc lên chiếc honda cả mẹ và tôi ngồi phía sau để chú xe ôm chở tiếp. Đến chân một con dốc, xe ôm không lên được. Tôi từng bước theo mẹ trèo lên con dốc lởm khởm đá.


Đường về quê ngoại - Ảnh minh họa: V.X

Nhà bà ngoại đây sao. Âm u giữa bốn bề cây cối. Không có cả ánh điện. Trời chưa tối lắm mà trong nhà đã tối thui. Một bóng người trong nhà lật đật chạy ra. Nhỏ bé, gầy gò. Bà ngoại tôi! Khựng lại một lúc, không biết mẹ đã nói gì, bà sát lại gần tôi, sờ vào má tôi, vào tay tôi, vào đầu tôi rồi nói bằng một thứ giọng nặng chình chịch, lần đầu tiên tôi nghe thấy: Ôi cháu của bà? Rồi, cũng như mẹ, không đế ý đến vẻ bực bội của tôi, bà kéo tôi đi rửa mặt mũi chân tay, thay quần áo…Vừa làm những việc đáng ghét đó bà vừa liên tục hỏi tôi hết câu nọ đến câu kia mà không nhận ra từ lúc nãy đến giờ tôi chẳng thèm trả lời.

Rồi bà lật đật đi nấu cơm.

Đói quá, tôi ăn vèo hết hai bát và lăn ra ngủ .

Ánh sáng lọt vào. Tiếng chim hót khiến tôi bừng tỉnh. Trong buồng vọng ra tiếng mẹ. “Con gửi thằng nhỏ lại. Trông nó cũng vất vả đấy nhưng dạo này con khó khăn quá...”Rồi tiếng sụt sịt của hai người. Một lúc thì mẹ bước ra. Tôi quay mặt vào phía trong, vờ như vẫn đang ngủ. Mẹ gọi tôi dậy. Vẻ mặt mẹ không còn trầm trọng, đáng sợ như suốt ngày hôm qua nữa. Mẹ dịu dàng ôm tôi vào lòng: “Từ hôm nay con ở với bà ngoại nhé. Một thời gian nữa mẹ sẽ quay lại đón con”. Trưa đó mẹ ra Hà Nội luôn. Tôi theo bà ra đầu con dốc tiễn mẹ. Nước mắt mẹ giàn dụa: “Con ngoan, nhớ nghe lời bà nhé”. Rồi mẹ vừa chạy vừa lau nước mắt.

Mẹ đi rồi. Bỏ lại một mình tôi ở nơi hoàn toàn xa lạ này sao. Như bừng tỉnh tôi đuổi theo mẹ. Tối qua, ngồi xe ôm về tôi không biết ra đường cái bằng hướng nào, nhưng theo quán tính tôi cứ chạy một mạch. Tôi chạy trước bà hốt hoảng đuổi theo sau… Không quen đường dốc tôi ngã bổ nhào về phía trước. Nỗi tủi thân bị mẹ bỏ rơi khiến tôi òa lên khóc nức nở. Tôi lầm lỳ nhìn bà bằng tất cả sự bực bội.

***


Nhà ngoại - Ảnh minh họa: V.X

Nhà bà ngoại nằm lặng lẽ, chơ vơ trên ba con dốc tụm lại nên đi hướng nào cũng dốc. Bà bảo, ông chọn chỗ này để tránh lụt. Năm xưa làng có trận lụt khủng khiếp, nó ảm ảnh ông đến nỗi ông phải chọn chỗ đất nào cao nhất mới dựng nhà để không bao giờ phải sống trong nỗi lo sợ mỗi khi mưa về. Ở đây núi cao đồng thấp, mưa sang ngày thứ ba là lụt rồi. Nước ào ào từ rừng đổ về, qua một đêm cánh đồng phơi phới lúa sắp đến độ thu hoạch trắng xóa một màu nước. Không chịu nổi cảnh mất mùa triền miên xảy ra, bao nhà lục đục kéo nhau vào miền Nam làm ăn. Những gia đình ở trên con dốc này cũng lần lượt ra đi. Từ một chùm xóm đông vui dần dần còn lại mỗi ngôi nhà của bà. Ngôi nhà lợp bằng mái tranh, tường đất. Bao bọc xung quanh là vườn rau và màu xanh của muôn loại cây và cỏ dại.

Tinh mơ bà đã dậy, ra vườn chè hái một nắm lá lẫn cọng hãm đầy một ấm. Tôi hỏi làm sao bà uống hết, đổ đi thì phí quá. Bà bảo lỡ có ai đến, chè tha hồ trong vườn, tiếc gì. Trời, có ai đến đâu từ ngày tôi về đến giờ. Mà có thì làm sao người ta uống hết chừng ấy nước chè của bà được. Bà cũng biết vậy nhưng sáng ngủ dậy hãm một ấm chè xanh như đã thành nếp. Như sáng nào cũng cầm chổi quét nhà, quét sân, quét ngõ rồi quét thêm một đoạn đường nữa vậy. Dù đoạn đường đó có mấy ai qua bao giờ. Xong xuôi, bà gọi tôi dậy ăn một thứ gì đó. Điều khiến tôi sung sướng khi ở với bà là đến bữa không bị ép ăn rau – dù bà có cả một vườn rau - và ngủ dậy không phải đánh răng. Bà không có thói quen ăn sáng. Bà bảo sợ trưa ngang bụng không ăn được.

Ban đầu tôi cứ nghĩ là bà nói tiếng Việt không chuẩn. Sau rồi mới biết ở đây người ta đều nói một giọng nằng nặng như thế. Nên từ “bà già nước ngoài” tôi thầm đặt cho bà cái tên “bà già bẩn thỉu” và khoái chí cái tên gọi đó. Mẹ thì quần áo, đồ đạc bừa bộn nhưng sạch sẽ, còn bà thì ngược lại. Đến bữa ăn chẳng bao giờ thấy bà rửa tay. Thế mà đôi tay đó còn bốc thức ăn cho tôi. Giặt quần áo không có xà phòng. Trải quần áo ra trên một mỏm đá bên cái giếng làng, dùng chày đập đập rồi rủ rủ xuống nước coi như sạch. Hai khóe miệng bà lúc nào cũng rân rân nước trầu. Tôi sợ nhất là bị bà sai nhai trầu hộ khi bà đau răng. Tôi không giúp thì bà để miếng cau trên bục cửa mà tôi vẫn đứng rồi lấy cái chày đập quần áo đập dập miếng trầu, xong cho ngay vào mồm nhai. Bảo có nước vôi rồi thì sợ gì. Nước vôi diệt hết.

Buổi tối tôi không thể nào ngủ chung phản với bà được. Trời nóng thế nào bà cũng chỉ ngồi quạt cho đến lúc tôi ngủ hẳn rồi mới vào ngủ trên cãi chõng tre trong buồng. Tôi sẽ gạt phắt vòng tay của bà và không chịu ngủ nữa nếu phát hiện thấy bà ngủ bên cạnh. Mỗi khi cùng bà tới đâu tôi luôn cố bước thật chậm để cách xa bà một đoạn. Tôi sợ người ta phát hiện ra là cháu của “bà già bẩn thỉu” này.


Mảnh vườn của ngoại - Ảnh minh họa: V.X

Một, hai, ba… sao vườn bà nhiều cây thế không biết. Cây to như cột đình tôi ôm không xuể, cây bé tẻo teo mà chắc bà cũng chưa biết nó có mặt trên đời. Bà bảo vườn bà là vườn tạp. Mấy lần trên huyện có chủ trương biến các vườn tạp thành vườn ăn quả, nhiều nhà cũng hăng hái đào, cưa hết cây lưu niên, và phá hết vườn cọ, vườn chè nhưng phá xong rồi không thành vườn hoa quả mà thành vườn hoang. Vì đất ở đây xấu, hoa quả trồng lên nếu không kiếm đất ở ngoài đồng về và chăm sóc cẩn thận sẽ chẳng lớn được, có ra quả thì quả cũng chua lòm. Một mình bà thì làm sao làm được việc đó nên bà cứ giữ nguyên vườn tạp. Ít ra cũng mát cửa mát nhà. Nhưng chính cái tạp đó mà chiều xuống không gian ở đây cứ âm u, buồn bã thế nào.

Mấy lần theo bà đi gánh nước ở xóm dưới, khi nước mưa trong vại hết, tôi có thấy những đứa bằng tuổi tôi nhưng chẳng lẽ tự dưng lại sà vào chơi, nó đánh cho thì làm sao. “Giá có ai mà chơi nhỉ”, nghe tôi than thế bà dẫn về một đứa con gái. Nó cứ nhìn tôi không chớp mắt cứ như thể tôi trên trời rơi xuống vậy. Tôi cũng quắc mắt lên nhìn nó rồi không hiểu sao nó chạy thẳng một mạch về nhà, không thấy đến lần nào nữa. Bà bảo, dưới xóm nhiều đứa bằng tuổi cháu nhưng chúng phải ra đồng làm việc. Quanh quẩn trong khu vườn mãi cũng chán, tôi không biết làm gì ngoài gây sự, trêu tức bà. Đầu ngõ có một cái giếng bỏ hoang, rất sâu, mỗi khi trời mưa nước mưa từ trên vườn đổ xuống giếng mới có nước. Một lần, mặc cho bà gọi vào ăn cơm tôi vẫn đứng ỳ ngoài ngõ. Rồi trong đầu tôi nảy ra một ý nghĩ. Khi bà ra ngõ tìm, gọi tôi, “ùm” tôi ném một bọc đá xuống giếng. Bà hốt hoảng chạy xung quanh thành giếng ới ời tên tôi. Giọng bà lạc đi khi kêu người đến cứu. Lúc đó tôi mới nhảy từ trong bụi dứa ra cười khoái trá. Bà chỉ nhìn tôi “tổ cha mi” một câu rồi ngồi phịch xuống mặt mày tái xám như chưa thoát khỏi nỗi hoang mang.

Bà bảo theo bà đi mót cho đỡ buồn. Chưa ra đồng lần nào nên tôi không dám đi cách xa bà là mấy. Có lẽ thế mà một số người có vẻ biết tôi là cháu bà. Người ta xì xầm: “Con cái Hồng đấy?”, “Con cái Hồng đấy?”. Tôi cúi gằm mặt tránh những cái nhìn chằm chằm. Bà dừng lại ở những ruộng khoai mới dỡ cuốc cuốc xới xới xem người ta còn sót lại củ nào thì lấy. Mắt bà kèm nhem, bỏ qua nhiều củ khoai to mà không biết. Tôi nằm trên bờ ruộng nhắc nhưng bà vẫn không tìm ra thì kệ bà. Hết ruộng khoai lại sang ruộng lạc, ruộng sắn. Ở đây người đi mót như bà cũng nhiều nhưng chủ yếu là bọn bằng tuổi tôi, chúng nó mắt tinh hơn nên giành hết phần bà. Có đứa mót vào những ruộng đang dỡ dở, nhè khi không có chủ đào tới đào tấp luống khoai, luống lạc của họ cho vào phần mình. Cho nên tối về mủng của bà chỉ lèo tèo mấy củ khoai sứt sẹo còn chúng nó thì phải đội cả lên đầu..

Ngày mai có phiên chợ Trúc - còn gọi “đại chợ”. Cả buổi chiều tôi thẩn thơ ngoài vườn xem bà cắt chè, bó chè để sáng mai mang bán. Sáng tinh mơ, khoảng hơn bốn giờ, bà đã gọi tôi dậy ăn cháo bưởi rồi còn kịp đi chợ. Cháo bưởi là gạo tháng mười, ướp hương bưởi (một loại gạo màu nâu đỏ, hạt dài, thu hoạch vào tháng mười, chỉ quê ngoại mới có). Từ nhà ra đến chợ phải mười cây số nhưng nỗi háo hức muốn được xem chợ khiến tôi chẳng mệt mỏi chạy theo hai tay bà vung vẫy nhịp nhàng. Ra đến chợ trời đã sáng bạch và nhộn nhịp lắm rồi. Chợ quê nhộn nhịp được khoảng hai tiếng đồng hồ là vãn vậy mà hơn một tiếng rồi gánh chè của bà vẫn không ai hỏi tới. Kẻ bán người mua ở đây hầu hết đều là người làng nên tiếng chào hỏi, cười đáp nhiều hơn tiếng giao kèo, mặc cả. Nhà nào có gì thì mang bán thứ đó, tiện chỗ nào là ngồi nên chợ không ra hàng ra lối nào cả. Píp…píp…kem đây kem đây…thùng kem đi qua nhưng bà chưa bán được bó chè nào nên tôi cố nuốt nước bọt. Những que kem ở quê có màu trong suốt và ngọt tê lưỡi. Bà bảo tôi trông chừng gánh hàng cho bà đi một vòng chợ. Một lúc đã thấy bà quay lại với nào bánh đúc, bánh gai, bánh đa và cả một gói kẹo bột. Bà bảo tôi ăn bánh đa luôn cho nóng còn nữa để lát nữa ăn trên đường về. Rồi gánh chè của bà và những gánh chè khác cũng có người mua. Người dưới xuôi lên mua buôn. Đến lúc này tôi mới biết vì sao trưa chợ, chưa bán được mà ai nấy vẫn không tỏ ra sốt ruột. Trên đường về bà bảo số tiền bán chè hôm nay đủ để bà mua quà cho tôi ăn suốt giờ đến phiên chợ tiếp theo. Hai chân tôi mỏi nhừ, thấy đường về sao mà dài. Qua hết một con dốc tôi ngồi vào thúng để bà gánh bởi phải tới trưa mới về đến nhà. Để khỏi chông chênh bà phải cho rất nhiều đá cục vào chiếc thúng bên kia.

***

Tôi chán những món canh tập tàng ăn với cà muối của bà lắm rồi. Món trứng rán cũng không còn hấp dẫn nữa. Tôi không hiểu sao ngày nào cũng chừng ấy thứ trên bàn mà bà vẫn nuốt được. Mẹ tôi sao mãi chưa về. Nhìn bát cơm khô khốc, tôi dằn dỗi không chịu ăn. Bà nói thế nào tôi cũng nhất định không. Rồi tôi lăn ra khóc ăn vạ bà. Bà cũng không ăn nữa, bảo tôi chịu khó đợi bà vậy. Giữa trưa nắng chang chang bà đội nón, mang tơi ra đồng. Bà đi bắt cá. Nhưng làm gì có cá. Những cái đìa trong góc ruộng bọn thả trâu ngày nào chẳng sục sạo. Không muốn tôi thất vọng, bà ra sông mò hến. Nước sông nóng rẫy, cá chết nổi lềnh bềnh nhưng bà vẫn nhẫn nại tìm mò cho ra được bãi có hến. Trời ngả sang chiều từ khi nào bà cũng không biết. Cho đến khi lộp bộp những giọt mưa báo hiệu trên nón, ngẩng đầu lên bà mới hay một cơn giông đang ùn ùn kéo. Cho hết tất cả số hến mò được cả buổi chiều vào nón bà tất tưởi chạy về nhà. Khi đó tôi vừa ngủ một giấc dậy, thấy bà quần áo ướt sũng đang đổ hến vào chậu ngâm. Trong lòng thấy chút áy náy nhưng vốn từ trước đến giờ không thể hiện tình cảm nên tôi cứ nằm đấy, không chạy lấy khăn, lấy quần áo khô cho bà.


Bến sông, bà mò hến - Ảnh minh họa: V.X

Nồi cháo hến nghi ngút khói, thơm sực mùi hành răm khiến tôi nhỏ dãi. Tôi ăn một mạch bốn bát rồi vẫn thèm thuồng. Khi tôi hít hà với bát cháo nóng thì bà đang cố nuốt từng thìa.. Giọng bà nghe đã hơi khang khác: “Cháu cứ ăn đi, bà hơi mệt một chút”. Rồi bà vào buồng nằm. Thấy lo lo, một lúc sau tôi vào thấy bà đã đắp chiếu và đang rên hừ hừ. Cúi xuống, trán bà đẫm mồ hôi mà chân tay thì lạnh ngắt. Tôi chạy ra phản lấy hết chăn chiếu đắp lên người bà nhưng tiếng rên vẫn chưa dứt. Rồi tiếng rên yếu dần, yếu dần. “Bà ơi, bà đừng chết”. Tôi lay mãi bà vẫn không mở mắt, không nói gì. Rồi chốc chốc tôi lại ghé tai xem bà còn thở nữa không. Nếu một lúc nữa bà không thở nữa thì sao, tôi hoang mang muốn chạy xuống dốc gọi ai đó cứu bà nhưng sau cơn mưa lớn màn đêm buông xuống nhanh tôi không dò đường được nữa. Tôi gục bên chõng tre, cạnh bà, trong nỗi hối hận.

Quá nửa đêm thì bà tỉnh. Bà bảo bà chỉ cảm do nhiễm nước thôi, thỉnh thoảng vẫn bị thế này, không làm gì nó cũng tự khỏi. Rồi bà hỏi tôi ăn cháo hến có ngon không. Thấy cháu ăn ngon là bà vui rồi. Tôi sung sướng như đang nhìn thấy bà từ từ sống lại.

Sau trận cảm đó tôi mới chịu trò chuyện với bà. Tôi cũng không để bà ngủ một mình trong chõng tre nữa.

***

Mẹ tôi trở về đón tôi như đã hứa. Cũng đường đột và vội vàng như hôm đưa tôi về. Khi đó bà đang lúi húi trong bếp chuẩn bị bữa cơm sớm hơn mọi ngày để còn cho tôi vào đồi thông lượm cành khô và lá về đun. Mẹ chẳng nói chẳng rằng bảo tôi dọn dẹp mọi thứ rồi xin phép bà đi luôn cho kịp chuyến xe. Bao lâu rồi tôi đã mong được mẹ trở về đón nhưng sao hôm nay, mẹ về rồi tôi lại buồn thế này. Tôi không muốn xa bà.

Bà tiễn hai mẹ con ra tận đường cái. Suốt đoạn đường tôi lầm lỳ không nói gì. Tôi thấy giận mẹ. Xe đến, tôi nhảy phốc lên. Đến khi xe chạy tôi mới nhào ra cửa sổ gọi bà. Bên vệ đường, bà cười, nụ cười như mếu, hai hàng nước mắt lã chã nhìn theo…

***

Tôi không còn được gặp bà nữa. Một cơn bạo bệnh đã cướp bà đi trong im lặng. Khi mẹ dắt tôi về mọi việc đã xong xuôi. “ …Bao nhiêu năm con đã dấu đứa cháu của mẹ…Đi biệt không về…. Con là đứa không biết nghe lời. Mẹ ơi…”. Rồi mẹ gục xuống mộ bà trong nỗi đau đớn, day dứt tột cùng. Trên đồi hoang tôi nhìn xuống con sông uốn quanh. Có phải là con sông hôm nao bà lội giữa trưa nắng chang chang…

Phan Thị Thúy Hà

Bản để In Gửi cho bạn mình

Những tin đã đưa

Gọi mùa thu bay đi... (21/08/2007)
Mưa đầu mùa... (18/08/2007)
Chuyện trẻ con (12/08/2007)
Gọi mùa thu bay đi (06/08/2007)
Có Một Mùa Hè (02/08/2007)
Hoàng Hạ (11/07/2007)
Tình bạn online (10/07/2007)
Con tàu chở tình yêu (07/07/2007)
Thầy vẫn đạp xe - Phần II (06/07/2007)
Thầy vẫn đạp xe (24/06/2007)