Chuyện tình của nhà báo Minh Quốc
Duyên số
 |
|
Ảnh minh họa | Cả hai đều con nhà gia giáo ở thị xã Phan Thiết, thoát ly gia đình đi kháng chiến chống Pháp vào lứa tuổi mười tám đôi mươi. Cùng trung đoàn 812 nhưng hai người không quen nhau, chị ở trung đoàn bộ, anh ở ban chính trị. Duyên số đưa đến từ buổi trung đoàn bộ mời các ban trong trung đoàn đến dự "ăn Tết muộn" tổ chức tại Láng Chai (khu Lê Hồng Phong) vào đầu năm 1950. Trong phần liên hoan văn nghệ, cả chị lẫn anh đều "bị hát". Cô gái hồn nhiên vô tư với giọng hát trong veo ấy đã hút hồn anh từ đó, mỗi lần có dịp cùng chung học tập hội họp, chị luôn bất chợt nhìn thấy ánh mắt anh hướng về mình.
Tình yêu không lời
Hai năm sau, nghe tin chị được cấp trên cho đi học bổ túc văn hóa dài ngày ở Liên khu Năm, anh xin tổ chức cho phép được "đặt vấn đề" với chị. Bà Nguyễn Thị Sâm-vợ nhà báo Minh Quốc-nhớ lại … Bữa đó, nghe anh nói thương tôi, muốn "làm quen", tôi chỉ cúi đầu im lặng, mười ngón chân cứ di di dưới đất, chẳng một câu trả lời. Năm 1953, kết thúc khóa học chị trở về Bình Thuận, lúc này anh đi công tác, nhờ bạn bè gửi chị bài hát "Chiến thắng Ngã Hai" do anh sáng tác, đó là món quà đầu tiên anh tặng chị. Sau đó, thủ trưởng đơn vị gọi anh chị lên, hỏi ý kiến chính thức của hai người, một lần nữa chị lại lặng im không nói, im lặng kéo dài suốt cả tuyến đường về. Bà Sâm kể… Buồn cười lắm, tôi giả bộ đi chậm, anh đứng lại chờ. Tức mình, tôi cố đi thiệt lẹ, anh sải bước theo. cho đến lúc hai người sắp phải rẽ hai hướng, tôi đành chịu, không im được nữa. Tình yêu thời chiến tranh là như vậy, không một nụ hôn, không lời hứa hẹn, cũng chẳng hề có lá thư tình mà sao quá đỗi thủy chung.
Những chuỗi ngày xa cách
Kháng chiến có chiều hướng thuận lợi. Trung ương nhận định chiến tranh có thể kết thúc vào giữa năm 1954, khi ấy đất nước sẽ tạm chia hai miền. Theo yêu cầu nhiệm vụ đặc biệt mà cả hai không được biết, đơn vị tổ chức lễ tuyên hôn cho anh chị vào ngày 26/3/1954 tại Triền (Hàm Đức-HTB bây giờ), có hai bên gia đình từ thị xã Phan Thiết ra dự. Ba con gà dành đãi hai họ, bánh kẹo để bộ đội và bà con nơi đơn vị đóng quân liên hoan. Món quà quý giá nhất của mọi người tặng anh chị hôm ấy là… những gánh nước để nấu phục vụ đám cưới, bởi giữa vùng Cực Nam khô hạn này, lấy được một gánh nước ngọt, không dễ. Đám cưới kháng chiến rất vui, ai nấy đều hát, cô dâu chú rể cũng hát, hai người song ca bài "Ca ngợi Đảng Lao động Việt Nam" trong nhịp vỗ tay rộn ràng. Sau những ngày hạnh phúc ngắn ngủi, cả hai không ngờ sẽ là cuộc cách xa 15 năm trời đằng đẵng…
Tháng 7/1954, hiệp định Giơ-ne-vơ ký kết, vĩ tuyến 17 tạm thời phân chia ranh giới hai miền. Đơn vị được lệnh vào Hàm Tân để xuống tàu đi tập kết ra Bắc, nhưng khi vào đến nơi, cả hai anh chị đều được tổ chức bố trí ở lại miền Nam chuẩn bị cho một cuộc kháng chiến lâu dài. Anh ở lại căn cứ Bàu Rau Má (thuộc Hàm Kiệm-HTN bây giờ), chị về lại Phan Thiết sống hợp pháp để hoạt động bí mật nhằm móc nối với các cơ sở bí mật khác, gây quỹ kháng chiến và góp phần tổ chức đường dây trên bộ và trên biển. Đầu năm 1955, anh về qua thị xã thăm chị nhân đứa con đầu lòng ra đời, sau đó anh bị địch bắt trên đường đi công tác. Rất may, lúc này anh mắc bệnh đậu mùa, gia đình chạy lo cho anh về chữa trị, song anh không về nhà mà ra thẳng vùng căn cứ. Hai năm liền, vợ chồng không biết tin nhau, mãi đến khoảng giữa năm 1957, chị được một đường dây bí mật sắp xếp cho gặp anh hai ngày trước khi anh lên đường ra Bắc. Trong thời gian này, chị bị địch bắt hai lần, giam tại nhà lao Pa-gốt (Phan Thiết), đến năm 1968 cơ sở bí mật bị lộ, tổ chức bố trí cho chị trở ra vùng căn cứ. Khoảng đầu năm 1972, anh trở lại Trung ương cục miền Nam. Năm 1973, gia đình đoàn tụ, hai anh chị cùng công tác tại tòa soạn báo Giải Phóng.
Những lá thư đượm màu thời gian
Có lẽ từ ngày cưới cho đến khi chị được chuyển về công tác tại báo Giải Phóng cùng anh, thời gian hai người sống gần nhau không nhiều bằng những cánh thư của họ gửi cho nhau. Những lá thư đi theo đường dây, qua các hòm thư bí mật, có khi không bao giờ đến tay người nhận "… Viết thư này cho em, anh không nhớ được đây là bức thư thứ mấy. Từ mấy năm nay, anh hoàn toàn không nhận được một nguồn tin nào chính thức về em và con. "May mắn lắm, cả năm trời chị mới nhận được tin anh "…Thời gian thư đi và đến đúng một năm. Đọc thư anh, em đã khóc nhiều. Thời gian tái hợp không định ngày, đã làm cho em thấy thấm thía cái ý nghĩa thiêng liêng của tình vợ chồng cách biệt". Còn thư anh gửi chị chứa đựng bao khát khao, lo lắng "…Mười lăm năm rồi, kể từ ngày chuyến xe lửa đưa chúng mình từ căn cứ Lê Hồng Phong vào Hàm Tân, và sau đó là những ngày tháng ngắn ngủi sống bên nhau để rồi một cuộc tạm biệt kéo dài. Trong lúc này được gặp nhau, nhìn tận mặt nhau, nói chuyện với nhau thật nhiều cho thỏa nổi nhớ mong day dứt của những tháng năm cách biệt dằng dặc.… Ở ngoài mình lúc này thế nào, đã có những đêm dầm mưa đi công tác chưa hở em?". Những lá thư qua thời gian giấy đã nhàu, phai mờ màu mực, vẫn được bà Nguyễn Thị Sâm trân trọng lưu giữ cùng bao kỷ vật khác. |