MXAT - Hướng tới kỷ niệm 60 năm Ngày 27.7; Chuyên mục "Thời hoa đỏ đi đâu rồi" xin trân trọng gửi đến bạn đọc kỷ niệm về “cái thời hoa đỏ” của một số tướng lĩnh đã trải qua hai cuộc kháng chiến thần kỳ của dân tộc. Toàn bộ các câu chuyện dưới đây được Nhóm phóng viên Phòng biên tập công tác Đảng, công tác chính trị tổng hợp từ cuốn “Phỏng vấn tướng lĩnh Việt Nam” (các tập 1,2,3) do Nhà xuất bản Trẻ ấn hành.
 Ảnh minh hoạ
Trung tướng Lê Tự Đồng: “Xa vợ con năm, mười năm là chuyện thường”
Hạnh phúc tuổi thanh xuân của tôi là được đứng vào hàng ngũ cách mạng, góp sức mình vào sự nghiệp giải phóng quê hương, đất nước. Tôi ít có thời gian nghĩ đến hạnh phúc riêng tư cho mình. May mắn là tôi có người vợ chung thủy, đảm việc nhà, nuôi dạy con cái chu đáo để tôi yên tâm trường kỳ đi đánh giặc.
Tôi còn nhớ kỷ niệm lần đầu tiên gặp bà ấy. Chúng tôi quen nhau trên chiến trường đánh Pháp. Lúc ấy, mặt trận Huế vỡ, trên đường rút về chiến khu Hòa Mỹ, tôi hơi buồn. Tình cờ, tôi gặp một cô chủ tịch xã, tên Nguyễn Thị Kim Khánh, nguyên là nữ sinh trường Đồng Khánh. Trong tâm trạng ngổn ngang ấy, gặp được một người khác giới, đoan trang, nghị lực, biết cách chia sẻ, động viên, tôi dần phải lòng, nhưng cũng chưa dám nghĩ đến chuyện riêng tư. Mãi tới khi tôi ra Liên khu 4 học quân sự, cô ấy cũng ra học, chúng tôi mới ngỏ lời nói chuyện tương lai và tiến tới thành hôn với nhau. Lễ cưới được tổ chức đơn sơ ở Hậu Hiền (Thanh Hóa).
Đời sống kháng chiến, những lúc rỗi rãi trên chiến trường, lúc nào tôi cũng nhớ vợ, nhớ con. Nhưng vì nhiệm vụ lớn trước mắt, giữa bao nhiêu mất mát, hy sinh của anh em chiến sĩ, tôi chẳng có thời gian nghĩ đến chuyện riêng. Trong chiến tranh, việc phải xa vợ con năm, mười năm biền biệt đối với người lính chúng tôi là chuyện thường tình…
Thiếu tướng Phan Khắc Hy: Những lá thư vượt đạn bom
Vợ chồng tôi luôn sống với tình cảm như lần đầu tôi gặp và yêu cô ấy, một nữ sinh trung học ở Hương Khê thời kháng Pháp. Vợ tôi là một phụ nữ hiền thục, thủy chung và có ý chí tiến thủ.
“Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy” của chúng tôi đến rất tự nhiên. Cuối tháng 12-1951, tôi được điều vào mặt trận Bình Trị Thiên. Từ giã Bố Trạch (Quảng Bình) thân yêu, nơi tôi sinh ra, lớn lên và trưởng thành trong phong trào cách mạng và kháng chiến của quê nhà, với biết bao tình cảm sâu nặng. Đến cơ quan mặt trận nộp giấy tờ xong, được cô văn thư cho biết, Bộ chỉ huy hẹn sáng mai gặp. Cô gái duyên dáng, vóc thon gầy, nét mặt hiền dịu, đượm đôi nét phong trần của chiến tranh. Qua tiếng nói, cử chỉ khi đối thoại, tự nhiên tôi thấy cảm tình với cô. Hôm sau, anh Trần Quý Hai – chỉ huy trưởng và anh Chu Văn Biên – chính ủy mặt trận, quyết định giữ tôi lại làm phái viên giúp Bộ chỉ huy.
Tình cảm giữa tôi và cô văn thư càng thân mật hơn và tình yêu đã đến. Nàng là một nữ sinh 18 tuổi đời đã tình nguyện “xếp bút nghiên lên đường tranh đấu” xung phong vào tuyến lửa, có lần suýt sa vào tay giặc và đã chứng kiến cái chết đau thương của đồng đội. Còn tôi là một thanh niên đang độ trưởng thành, đã từng ở bụi, nằm hầm, sống chết với đồng bào trong vùng địch trên tuyến lửa Quảng Bình. Tình vừa bén, lửa vừa nồng thì tôi được lệnh đi nhận nhiệm vụ ở Trung đoàn 18 thay đồng chí chính ủy đi học. Tình yêu lại được củng cố qua những lá thư vượt bom đạn đến với nhau…
Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên: Nên duyên ngay tại chiến trường
Chúng tôi đến với nhau rất tự nguyện. Bà nhà tôi xuất thân từ một gia đình Nho giáo nghèo, một thiếu nữ bình thường ở nông thôn, trụ cột lo toan việc nhà. Cô ấy cũng sớm tham gia phong trào địa phương, chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa. Đó là quan sát ban đầu trong một vài lần tôi đến nhà cô ấy vận động cụ thân sinh tham gia Việt Minh. Tình cảm giữa chúng tôi dần nảy nở. Khi bắt đầu bén duyên, tôi rất quan tâm đến “tấm lòng” của người yêu, và tôi nhận ra cô ấy là người nhân hậu qua nhiều biểu hiện nho nhỏ.
Hồi tháng 9-1945, Việt Minh tỉnh Quảng Bình tổ chức một cuộc mít tinh toàn tỉnh, tôi là người chủ trì, phát biểu chính. Cô ấy cùng một số chị em phụ nữ từ quê vào tỉnh lỵ dự mít tinh và mong trực tiếp… nghe người mình yêu. Một lần khác, trước lúc tôi từ huyện Quảng Trạch lên ga tàu hỏa về Vinh họp khu ủy, cô ấy đã mời tôi về nhà. Khi sang sông, tôi để ý thấy cô dốc hết tiền trong túi trả tiền đò. Về tới gần nhà, cô ra hiệu: “Em về trước, anh vào sau”…
Rồi một lần khác, lúc giặc Pháp đóng đồn gần nhà cô ấy, tôi chỉ huy một đơn vị nhỏ Vệ quốc quân đến đánh. Trong thời gian chuẩn bị, tôi đóng quân tại một làng gần đó. Không hiểu sao, cô ấy biết được, liền vượt qua đồn địch, đến tận nơi trú quân để hỏi thăm tôi. Cô ấy còn mang theo một gói lạc và nói lại nguyện vọng của nhân dân trong vùng mong Vệ quốc quân sớm đánh tan đồn địch. Nghe cô nói, tôi rất cảm động.
Khi quân Pháp chiếm huyện lỵ Quảng Trạch, cơ quan huyện dời lên Trung Thuần, cô ấy theo bố ra thăm. Ông cụ được mời ở lại hẳn chiến khu làm chủ nhiệm Mặt trận Liên Việt. Cô ấy cũng ở lại. Từ đó, chúng tôi nên vợ, nên chồng ngay trên chiến trường…
Thượng tướng Hoàng Cầm: Tình yêu thời chiến là như thế!
Cách mạng Tháng Tám thành công, tôi trở về Thủ đô Hà Nội, rồi trở ra chiến khu Việt Bắc. Lúc ấy, tôi có quen một cô gái Hà Nội bán hàng tạp hóa. Con gái Hà Thành thì anh biết rồi đấy, khá xinh. Chúng tôi dự định tổ chức đám cưới với nhau, nhưng rồi nổ ra kháng chiến, cô ấy đành ở lại Hà Nội. Không biết cuộc kháng chiến trường kỳ bao giờ mới kết thúc, sợ cô ấy khổ, nên tôi quyết định cắt đứt quan hệ. Tình yêu lứa đôi thời chiến là như thế. Luôn phải sẵn sàng chịu đựng mất mát, hy sinh.
Mãi về sau, khi tôi 34 tuổi, anh Kim Ngọc – cha đẻ của khoán hộ gia đình trong nông nghiệp, nguyên là bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phú, làm mối cho tôi quen cô Thành Kiều Vượng. Lúc ấy, cô ấy là cán bộ ngành thuế. Biết nhau nhưng ít có thời gian gặp nhau. Tôi vừa làm công tác quân sự, vừa làm công tác chính quyền. Chúng tôi cưới nhau năm 1955. Cưới xong là lên đường đi công tác ngay. Trải qua mấy mươi năm chung sống bên nhau trên mọi miền đất nước, chúng tôi có 5 con, tất cả đều là bộ đội… Dịp bà ấy 60 tuổi, tôi có làm một bài thơ tặng vợ thế này: “Đời em là một giấc mơ/Mơ chồng thắng trận, mơ cờ đảng viên/Chiến tranh mấy mươi năm liền/Mà em vẫn giữ bình yên như người/Đến nay tuổi đã sáu mươi/Năm con bảy cháu mừng vui bên bà/Tuổi em là tuổi con gà/Tuổi anh con khỉ nhưng mà đẹp đôi/Tuy rằng tóc bạc da mồi/Chúng tôi vẫn giữ lứa đôi vẹn tròn/Còn trời còn nước, còn non/Có dân, có Đảng ta còn sống lâu”.
Trung tướng Đồng Văn Cống: Sánh vai nhau trên đường cách mạng
Thế hệ chúng tôi vừa lớn lên đã lao vào cuộc chiến đấu vì nền độc lập, tự do của dân tộc, nên thật ít có thời gian để nghĩ đến chuyện riêng tư. Riêng gia đình tôi may mắn là đều được rèn luyện trong môi trường quân đội, cả vợ lẫn con cái.
Thuở nhỏ, tôi và bà ấy là láng giềng của nhau. Cô ấy là một thợ cấy giỏi có tiếng. Chúng tôi thấy tính tình hợp nhau, thương nhau và xin gia đình tổ chức đám cưới. Năm tôi 18 tuổi, tham gia cách mạng cũng là năm chúng tôi thành hôn. Sau đó cô ấy cũng đi làm cách mạng và vào quân đội. Chúng tôi giúp đỡ, sánh vai nhau cùng đi qua những chặng đường gian khổ, vinh quang của đất nước.
Bảy đứa con của chúng tôi lần lượt ra đời trong chiến tranh, khi lớn khôn đều tốt nghiệp đại học và đều là quân nhân.
* Bài đã đăng trên báo QĐND ngày 22 tháng 12 năm 2006. |